Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Kinh tế - Xã hội

Xem với cỡ chữAA

Nhiều giải pháp tiếp tục đẩy mạnh công tác khuyến công

(10:25 | 04/11/2018)

Những năm qua, công tác khuyến công được nhận định là bạn đồng hành đáng tin cậy của các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT), qua đó thúc đẩy ngành CNNTcủa tỉnh phát triển... 

Giai đoạn năm 2014 - 2018, thực hiện Chương trình khuyến công quốc gia và địa phương, Kiên Giang đã triển khai được 68 đề án/kế hoạch khuyến công, với tổng kinh phí 7.968,6 triệu đồng. Trong đó, kinh phí khuyến công quốc gia là 1.744 triệu đồng, với 5 đề án; kinh phí khuyến công địa phương 6.224,6 triệu đồng, với 63 đề án/kế hoạch, cụ thể như sau:


Về hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở CNNT: Triển khai 2 lớp đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho 107 học viên là chủ các DN, cơ sở CNNT, đã góp phần nâng cao năng lực và kỹ năng quản lý cho các cơ sở CNNT, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp và ổn định sản xuất, phát triển kinh tế địa phương.


Về hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật: Hỗ trợ 26 dự án đầu tư đổi mới thiết bị, ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào sản xuất của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CNNT. Các dự án sau đầu tư đã phát huy hiệu quả, góp phần giúp các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CNNT tiếp cận được các máy móc, thiết bị tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, giảm các phát thải ra môi trường, trong đó: Từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương là 22 đề án, với tổng kinh phí hỗ trợ 3.768,6 triệu đồng. Từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia là 4 đề án, với tổng kinh phí hỗ trợ là 800 triệu đồng. 


Sản xuất sạch hơn: Thực hiện hỗ trợ đánh giá nhanh về sản xuất sạch hơn trong công nghiệp cho 12 doanh nghiệp, cơ sở CNNT. Nhằm giúp cho các doanh nghiệp, cơ sở CNNT phát hiện các chi phí không hợp lý trong sản xuất, đề xuất các giải pháp cho doanh nghiệp, cơ sở CNNT để cải tiến, thay thế công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm phát thải ra môi trường. 


Về hỗ trợ phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu: Tổ chức 1 cuộc Hội chợ Công nghiệp - thương mại đồng bằng sông Cửu Long - Kiên Giang năm 2018, với kinh phí 944 triệu đồng, từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia (hỗ trợ 80% chi phí cho 200 gian hàng). Tham gia hội nghị Kết nối Cung - Cầu tại thành phố Hồ Chí Minh, vận động được 27 doanh nghiệp, cơ sở, hộ kinh doanh gửi sản phẩm thực phẩm chế biến, nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Tham gia 12 cuộc hội chợ, triển lãm tại các tỉnh, thành phố để quảng bá cho hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu của tỉnh. Qua đó, tạo điều kiện cho các cơ sở tham quan học hỏi kinh nghiệm, tìm kiếm đối tác kinh doanh, mở rộng thị trường.Tổ chức thành công 02 cuộc bình chọn sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp tỉnh, năm 2015 và năm 2017, có tổng số 123 sản phẩm đạt giải, trong đó có 14 sản phẩm đạt giải cấp khu vực và 7 sản phẩm đạt giải cấp quốc gia. Tổng kinh phí thực hiện là 1.986,1 triệu đồng (kinh phí khuyến công địa phương). Chương trình bình chọn sản phẩm CNNT tiêu biểu ở tỉnh Kiên Giang đã có những hiệu ứng tích cực, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất CNNT đã quan tâm đầu tư đổi mới cải tiến công nghệ, thiết bị sản xuất để nâng cao chất lượng sản phẩm; chú trọng đồng bộ các khâu cải tiến mẫu mã và đăng ký sở hữu trí tuệ sản phẩm…, để có cơ hội phát triển sản xuất với khối lượng hàng hóa lớn, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường.


Về hỗ trợ cung cấp thông tin về các chính sách phát triển công nghiệp, khuyến công: Thực hiện tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: Tuyên truyền 423 tin, bài trên Báo Kiên Giang, website của Sở Công Thương, website của Bộ Công Thương và 59 chuyên mục công thương trên báo, đài tỉnh. Tuyên truyền trên đài truyền thanh các huyện, thị xã, thành phố tổng số 8 lượt tuyên truyền. Phát hành 1.000 tờ gấp thực hiện công tác tuyên truyền về sản xuất sạch hơn trong công nghiệp năm 2017. Tổng kinh phí thực hiện là 67,2 triệu đồng (kinh phí khuyến công địa phương). 


Về hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động khuyến công: Tổ chức được 11 lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác khuyến công, qua đó có 477 lượt cán bộ làm công tác khuyến công các huyện, thị xã và thành phố tham dự. Qua các lớp tập huấn giúp cán bộ làm công tác khuyến công nắm rõ và hướng dẫn, thông tin cho các cơ sở sản xuất CNNT một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời, giúp các cơ sở sản xuất CNNT tiếp cận chủ trương, chính sách hỗ trợ của nhà nước để đầu tư phát triển. Tổng kinh phí thực hiện 334,6 triệu đồng (kinh phí khuyến công địa phương).
Về huy động các nguồn lực thực hiện: Tổng nguồn vốn thực hiện chương trình khuyến công giai đoạn 2014-2018 là 21.515,2 triệu đồng. Trong đó nguồn vốn khuyến công 7.968,6 triệu đồng (ngân sách Trung ương 1.744 triệu đồng; ngân sách địa phương 6.224,6 triệu đồng), nguồn vốn của các cơ sở CNNT 13.546,6 triệu đồng. Như vậy, một đồng của nhà nước đã thu hút 1,7 đồng của các cơ sở CNNT.


Kết quả đạt được có thể rút ra những bài học kinh nghiệm đề chỉ đạo thời gian tới: Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến chính sách về hoạt động khuyến công đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp trên các địa bàn dưới các hình thức như hội thảo, tập huấn, phát thanh, truyền hình…, để các thành phần kinh tế nắm và hiểu rõ hoạt động công tác khuyến công. Tranh thủ từ nguồn vốn khuyến công Trung ương trong xây dựng các đề án, chương trình, kế hoạch khuyến công.

 

Xây dựng kế hoạch khuyến công từ cơ sở cần bám sát vào kế hoạch phát triển KT – XH của địa phương, trong đó chú trọng đối tượng thụ hưởng đủ năng lực. Cùng với đó, phải thực hiện kiểm tra, báo cáo định kỳ, những khó khăn vướng mắc thực tế, để kịp thời tháo gỡ và đề ra những biện pháp chỉ đạo trong hoạt động khuyến công.


Tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm những mô hình hay, cách làm mới của các tỉnh, thành phố trong cả nước. Đẩy mạnh công tác nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác khuyến công thông qua các chương trình đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn về nghiệp vụ.


Kết quả trên cho thấy hoạt động khuyến công đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc khuyến khích thúc đẩy công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương. Đồng thời, hỗ trợ nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tiếp cận và thấu hiểu chủ trương của Nhà nước về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn. Để thực hiện hiệu quả đến năm 2010, tỉnh tập trung những nội dung cơ bản sau:


Về mục tiêu chung: Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình khuyến công quốc gia và Chương trình Khuyến công tỉnh Kiên Giang đến năm 2020.


Về mục tiêu cụ thể:


- Xây dựng 1 Đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng dây chuyền, máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất chế biến nông, thủy sản và 1 Đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất vật liệu ngành xây dựng và cơ khí.


- Xây dựng từ 01 mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới hoặc công nghệ mới trở lên; hỗ trợ trên 10 cơ sở chuyển giao và ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật mới.


- Tham gia 1 cuộc bình chọn và tham gia trưng bày giới thiệu sản phẩm công nghiệp nông thôn cấp khu vực và cấp quốc gia; tham gia trên 05 lượt trưng bày sản phấm CNNT của tỉnh Kiên Giang tại các kỳ hội chợ trong và ngoài tỉnh; hỗ trợ xây dựng và đăng ký thương hiệu cho từ 07 cơ sở CNNT; tổ chức 01 cuộc bình chọn sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp tỉnh và 7 cuộc bình chọn sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp huyện.


- Hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cho 2 cụm công nghiệp; hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường cho 1 cụm công nghiệp; hỗ trợ sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường cho khoảng 3 cơ sở.


- Triến khai thực hiện 1 cuộc khảo sát và xây dựng 1 chương trình khuyến công giai đoạn 2021 - 2025. Hỗ trợ các huyện, thành phố khảo sát xây dựng kế hoạch khuyến công hàng năm; tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động khuyến công hàng năm và kết quả hoạt động khuyến công của từng giai đoạn.
Để thực hiện cần 4 giải pháp sau:


Tăng cường quản lý nhà nước về khuyến công: Rà soát lại các cơ chế, chính sách đã ban hành để xem xét điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và các văn bản hướng dẫn của Bộ, ngành Trung ương. Thực hiện đồng bộ các nội dung chương trình khuyến công tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016 - 2020, chú trọng phát triển các ngành nghề, các làng nghề đang có xu hướng phát triển. Tập trung chỉ đạo giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp, cải cách các thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp ổn định phát triển. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của nhà nước về chính sách khuyến công đến các đối tượng áp dụng tham gia; thực hiện việc trao đổi thông tin, học tập kinh nghiệm công tác triến khai các đề án khuyến công nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động khuyến công của tỉnh. Xây dựng quy chế phối hợp giữa khuyến công, xúc tiến thương mại và khuyến nông nhằm từng bước thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của các ngành công nghiệp, nông nghiệp phát triển trong mối quan hệ gắn bó đồng bộ với nhau. Kịp thời khen thưởng các cá nhân, đơn vị có thành tích trong hoạt động phát triến CN-TTCN, thực hiện tốt công tác khuyến công; nhằm khuyến khích thi đua phát triển sản xuất, góp phần thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra.


Nâng cao năng lực, kiện toàn tố chức bộ máy: Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác khuyến công theo hướng chuyên nghiệp; củng cố và tăng cường năng lực quản lý nhà nước về CN-TTCN đối với các huyện, thành phố. Tố chức đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, đội ngũ công chức, viên chức làm công tác khuyến công. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động khuyến công hàng năm, từng giai đoạn đế rút kinh nghiệm.
Kết hợp với các chương trình mục tiêu khác: Ngoài nguồn kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ cho hoạt động khuyến công, kết hợp lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh có liên quan và một số các chương trình khác để khuyến khích, thu hút nguồn vốn của các cá nhân, tổ chức của toàn xã hội đầu tư phát triển CNNT. 


Kết hợp công tác khuyến công với xúc tiến thương mại: Hỗ trợ tiếp cận thị trường thông qua công tác thông tin, tiếp thị, xúc tiến thương mại, trưng bày giới thiệu sản phẩm. Đẩy mạnh công tác khảo sát tìm kiếm và mở rộng thị trường trong và ngoài nước, hỗ trợ cho các tổ chức cá nhân tham gia hội chợ, triển lãm./.
 

Lê Hồng