Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Điều kiện kinh tế – xã hội

Xem với cỡ chữAA

Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

(13:49 | 08/09/2016)

I- THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI

1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1. Tăng trưởng kinh tế

Từ những năm 2000 đến nay, nền kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định trong thời gian dài đã giúp cho Kiên Giang ngày càng phát triển, nâng cao thu nhập, đời sống của người dân. Cụ thể tăng trưởng qua các thời kỳ như sau:

- Thời kỳ 2001-2005, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,3%; trong đó nông lâm thủy sản tăng 7,9%, công nghiệp – xây dựng tăng 15,7% và dịch vụ tăng 14,4%.

- Thời kỳ 2006-2010, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,6%; trong đó nông lâm thủy sản tăng 7,2%, công nghiệp – xây dựng tăng 13,1% và dịch vụ tăng 17,4%.

- Thời kỳ 2011-2015, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 10,4%; trong đó nông lâm thủy sản tăng 7,0%, công nghiệp – xây dựng tăng 10,8% và dịch vụ tăng 13,8%.

Bảng 03: Tăng trưởng kinh tế tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2001-2015

Số

 

Đơn

Giai đoạn 2000-2015

Tăng BQ (%/năm)

thứ

Hạng mục

vị

Năm

Năm

Năm 2010

Năm

Năm

2001-

2006-

2011-

tự

 

tính

2000

2005

SS 1994

SS 2010

2014

2015

2005

2010

2015

*

GRDP giá so sánh

Tỷ đ

6.332

10.829

18.729

44.086

65.819

72.151

11,3

11,6

10,4

 -

Nông lâm thủy sản

Tỷ đ

3.538

5.173

7.337

18.768

25.264

26.318

7,9

7,2

7,0

 -

Công nghiệp - XD

Tỷ đ

1.551

3.217

5.951

10.752

15.901

17.975

15,7

13,1

10,8

 -

Dịch vụ

Tỷ đ

1.244

2.440

5.441

14.566

24.654

27.859

14,4

17,4

13,8

Nguồn:  - Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang qua các năm;

- Số liệu năm 2015 theo báo cáo 390/BC-UBND ngày 04/12/2015 của UBND tỉnh Kiên Giang về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 05 năm 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ 05 năm 2016-2020;

Đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế như trên là nhờ ngành kinh tế chủ lực nông lâm thủy sản vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân gấp 2- 2,5 lần tốc độ tăng khu vực nông lâm thủy sản cả nước; bên cạnh đó là sự tăng trưởng nhanh của các khu vực phi nông nghiệp đã góp phần thúc đẩy kinh tế ở Kiên Giang tăng trưởng ở tốc độ cao và ổn định trong suốt nhiều năm qua.

1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua theo xu hướng giảm tỷ trọng của các ngành nông lâm thủy sản, công nghiệp-xây dựng, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ.

Khu vực nông lâm thủy sản đã giảm từ 49,4% năm 2000 xuống còn 46,7% năm 2005, còn 42,6% năm 2010 và tiếp tục giảm còn 38,3% GDRP toàn tỉnh vào năm 2015. Ngược lại khu vực dịch vụ tăng từ 23,8% năm 2000 lên 28% năm 2005, lên 33% năm 2010 và chiếm 35,5% GDRP năm 2015. Khu vực công nghiệp - xây dựng vẫn tỷ trọng khoảng 25-26%. Cơ cấu kinh tế năm 2015 là nông nghiệp-dịch vụ - công nghiệp.

Bảng 04: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2001-2015

Số

 

Đơn

Giai đoạn 2001-2015

thứ

Hạng mục

vị

Năm

Năm

Năm

Năm

Năm

tự

 

tính

2000

2005

2010

2014

2015

1

GRDP giá thực tế

Tỷ đ

7.293

16.238

44.086

86.039

94.065

 -

Nông lâm thủy sản

Tỷ đ

3.601

7.578

18.768

33.013

35.987

 -

Công nghiệp – Xây dựng

Tỷ đ

1.954

4.118

10.752

20.554

24.670

 -

Dịch vụ

Tỷ đ

1.738

4.542

14.566

32.473

33.407

2

Cơ cấu GRDP

%

 

 

 

 

 

 -

Nông lâm thủy sản

%

49,4

46,7

42,6

38,4

38,3

 -

Công nghiệp - xây dựng

%

26,8

25,4

24,4

23,9

26,2

 -

Dịch vụ

%

23,8

28,0

33,0

37,7

35,5

3

GRDP bình quân/người

Tr.đ

4,7

9,8

25,8

49,2

53,4

Nguồn:  - Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang qua các năm;

- Số liệu năm 2015 theo báo cáo 390/BC-UBND ngày 04/12/2015 của UBND tỉnh Kiên Giang về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 05 năm 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ 05 năm 2016-2020;

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong 15 năm qua là phù hợp với xu thế của sự phát triển và phù hợp với tiềm năng kinh tế của tỉnh Kiên Giang theo hướng phát triển bền vững cân đối giữa các khu vực nông nghiệp-công nghiệp và dịch vụ.

2. Phát triển các ngành kinh tế

2.1. Nông – lâm - thủy sản và xây dựng nông thôn mới

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh Kiên Giang trong 5 năm qua (2011-2015) đạt mức tăng trưởng khá cao, bình quân đạt 7,5%, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước và tăng ở tất cả 03 ngành, trong đó: thủy sản tăng 8,8%/năm, nông nghiệp tăng 6,7%/năm và lâm nghiệp tăng 2,4%/năm. Như vậy, nếu lâm nghiệp đóng góp vào tăng trưởng 01 lần thì nông nghiệp đóng góp cao hơn 2,8 lần và thủy sản đóng góp cao hơn 3,6 lần lâm nghiệp và 1,3 lần nông nghiệp. Điều này cho phép khẳng định nông nghiệp là nền tảng để duy trì mức tăng trưởng ổn định, thủy sản là động lực thúc đẩy toàn ngành tăng trưởng cao hơn.

Bảng 05: Tăng trưởng GTSX nông nghiệp tỉnh Kiên Giang
(Theo giá so sánh năm 2010)

STT

Hạng mục

Giá trị sản xuất (tỷ đồng)

Tăng BQ (%)

 

 

2010

2013

2014

2015

2011-2015

*

TỔNG GTSX

37.133

47.712

51.145

53.401

7,5

1

Nông nghiệp

21.977

28.539

29.452

30.430

6,7

-

Trồng trọt

18.347

23.422

23.836

24.420

5,9

-

Chăn nuôi

2.548

2.662

2.880

2.967

3,1

-

Dịch vụ

1.082

2.455

2.737

3.043

23,0

2

Lâm nghiệp

247

270

275

279

2,4

-

Trồng và chăm sóc rừng

8

7

14

15

12,1

-

Khai thác lâm sản

228

262

259

262

2,9

-

Dịch vụ và hoạt động khác

12

2

2

2

 

3

Thủy sản

14.909

18.904

21.418

22.692

8,8

-

Nuôi trồng

5.938

7.807

9.312

9.966

10,9

-

Khai thác

8.971

11.005

11.961

12.450

6,8

-

Dịch vụ và hoạt động khác

 

91

145

276

 

Nguồn:  -  Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang năm 2014;

- Số liệu năm 2015 theo báo cáo 390/BC-UBND ngày 04/12/2015 của UBND tỉnh Kiên Giang về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 05 năm 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ 05 năm 2016-2020;

- Trong lĩnh vực nông nghiệp thì trồng trọt vẫn giữ tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân đạt 5,9%/năm trong giai đoạn 2011-2015, gấp hơn 02 lần so với tăng trưởng bình quân của vùng ĐBSCL và cả nước. Đóng góp lớn vào tốc độ tăng trưởng của ngành trồng trọt trong những năm qua là nhờ chủ trương cho phép phát triển lúa Thu Đông ở tiểu vùng Tây sông Hậu và một phần nhỏ ở tiểu vùng TGLX thuộc địa bàn huyện Tân Hiệp, Hòn Đất, giúp Kiên Giang là tỉnh dẫn đầu cả nước về sản xuất lúa, sản lượng lúa năm 2015 đạt 4,64 triệu tấn, trong đó lúa chất lượng cao chiếm đến 70%. Chăn nuôi do những hạn chế về điều kiện phát triển nên chỉ tăng trưởng ở mức 3,1%/năm. Dịch vụ nông nghiệp trong những năm gần đây đã được chú trọng phát triển nên có tốc độ tăng trưởng cao, đạt 23%/năm.

- Trong lĩnh vực lâm nghiệp thì chỉ có hoạt động khai thác lâm sản là giữ được tốc độ tăng trưởng 2,9%/năm, trong khi các hoạt động khác như trồng và chăm sóc rừng, dịch vụ lâm nghiệp quy mô nhỏ. Tỉnh cũng đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác tuần tra, kiểm soát, chống chặt phá, lấn chiếm và khai thác rừng trái phép, nhất là địa bàn huyện Phú Quốc. Tăng cường công tác chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng mới đảm bảo giữ ổn định diện tích ở các khu vực rừng đặc dụng, phòng hộ, duy trì tỷ lệ che phủ rừng đạt 10,8%.

- Trong lĩnh vực thủy sản thì bên cạnh hoạt động khai thác thủy sản vẫn giữ được mức tăng trưởng khá là 6,8%/năm, nuôi trồng thủy sản tăng trưởng rất cao, bình quân đạt 10,9%/năm. Đóng góp vào việc tăng trưởng nhanh của ngành nuôi trồng thủy sản trong những năm qua là nhờ việc tập trung chỉ đạo phát triển nuôi tôm thâm canh ở tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên và phát triển mô hình lúa – tôm ở tiểu vùng U Minh Thượng; nuôi các loài nhuyễn thể tại các bãi triều ven biển ở An Biên, An Minh, nuôi cá ven các đảo,… có hiệu quả. Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản năm 2015 khoảng 677.247 tấn (khai thác đạt 493.824 tấn, nuôi trồng 183.423 tấn), đạt 99% so với kế hoạch và tăng 43,07% so với năm 2010.

- Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới: Hết năm 2015, toàn tỉnh có 18 xã (15,25% số xã) và huyện Tân Hiệp đạt tiêu chí nông thôn mới. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng nông thôn ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới.

2.2. Ngành công nghiệp – xây dựng

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân trong 05 năm đạt 9,12%. Các cơ sở sản xuất công nghiệp từng bước đầu tư xây mới, mở rộng và nâng cấp đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa. Tập trung đầu tư phát triển nhưng ngành công nghiệp chủ lực, có tiềm năng lợi thế như: Sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - thủy sản.

Đã quy hoạch, xây dựng 05 khu, 10 cụm công nghiệp tập trung để tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến phát triển. (1). Ưu tiên tập trung đầu tư cho 02 KCN Thạnh Lộc và Thuận Yên nên đã thu hút được 21 dự án đăng ký đầu tư với diện tích thuê đất 151,88ha vào KCN Thạnh Lộc (19 dự án, 118,75ha) và Thuận Yên (02 dự án, 33,13ha). Đến nay đã có 09 dự án đang triển khai đầu tư với tổng vốn đầu tư trên 1.700 tỷ đồng; các dự án đã đi vào hoạt động như: Nhà máy bia Sài Gòn – Kiên Giang, nhà máy chế biến gỗ MDF, nhà máy giày TBS và nhà máy cấp nước Thạnh Lộc. (2). KCN Xẻo Rô đã hoàn chỉnh quy hoạch chi tiết 1/2000. UBND tỉnh đã chấp thuận chủ trương cho 02 nhà đầu tư triển khai dự án, gồm: Dự án xây dựng ụ đóng mới, sửa chữa tàu thuyền, xưởng cơ khí, cưa xẻ gỗ và dự án nhà máy chế biến chả cá và hải sản. Đến nay chưa có nhà đầu tư đăng ký đầu tư cơ sở hạ tầng cho KCN. (3). KCN Tắc Cậu đang tiến hành xác định vị trí, ranh đất quy hoạch giữa KCN Tắc Cậu và Khu Cảng cá Tắc Cậu mở rộng giai đoạn II để làm cơ sở lập Quy hoạch chi tiết khi có nhà đầu tư. Đến nay chưa có nhà đầu tư vào khu công công nghiệp này. (4). KCN Kiên Lương II chưa thu hút được nhà đầu tư. Riêng 10 CCN chỉ có CCN Vĩnh Hòa Hưng Nam và CCN Hà Giang là thu hút được 01 nhà đầu tư, 08 cụm còn lại gần như chưa giải tỏa đền bù, chưa thu hút được nhà đầu tư.

Nhìn chung, trong thời gian qua bên cạnh việc ban hành chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, tỉnh đã đẩy mạnh các hoạt động kêu gọi đầu tư và đã tạo những chuyển biến tích cực so với trước. Tuy nhiên, tiến độ đầu tư kết cấu hạ tầng còn chậm, nguyên nhân do hạn chế về nguồn vốn, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.

Trong 05 năm qua đã tập trung đầu tư xây dựng mạng lưới điện đối với các xã đảo, các vùng lõm, điện bơm tưới phục vụ sản xuất lúa và nuôi tôm công nghiệp. Đưa vào sử dụng đường điện cáp ngầm ra đảo Phú Quốc, đường điện ra xã đảo Hòn Tre; khởi công mới điện lưới quốc gia cho xã: Lại Sơn - huyện Kiên Hải, Hòn Nghệ và Hòn Heo - huyện Kiên Lương; xây dựng nhiều công trình giao thông mang tính kết nối, liên kết vùng.

2.3. Ngành dịch vụ - du lịch

- Thương mại: Hoạt động thương mại cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất kinh doanh và tiêu dùng; hàng hóa phong phú, đa dạng với nhiều chủng loại. Tổ chức tốt việc đưa hàng Việt về phục vụ ở các xã đảo, biên giới, góp phần thực hiện có hiệu quả chương trình “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” tạo sự đồng thuận cao của nhân dân. Hệ thống chợ, siêu thị tiếp tục được đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng thương mại, dịch vụ. Đến nay có 143 chợ, 4 siêu thị và 01 chợ nông sản. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2015 đạt 64.467 tỷ đồng, tăng 2,25 lần so với năm 2010, mức tăng bình quân 05 năm đạt 17,67%/năm và vượt 4% so với Nghị quyết, trong đó kinh tế nhà nước tăng 84,9%; kinh tế tư nhân tăng 16,8% so với kế hoạch.

- Hoạt động xuất nhập khẩu: Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 400,81triệu USD, đạt 44,53% so kế hoạch, giảm 13,9% so năm 2010. Kim ngạch nhập khẩu năm 2015 ước 60 triệu USD, đạt 100% kế hoạch. Kim ngạch xuất nhập khẩu qua Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên, Giang Thành năm 2015 đạt 115 triệu USD.

- Hoạt động du lịch: Đã có bước khởi sắc hơn so với trước, nhất là các năm 2014, 2015. Nhiều chuyến bay quốc tế kết nối với Phú Quốc như: Nga, Singapore, SiemRiep - Campuchia…, các cơ sở lưu trú tiếp tục phát triển, trong đó các dự án du lịch chất lượng cao đã và đang được đầu tư, hoàn thành và đưa vào sử dụng ở Phú Quốc, tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch và kinh tế - xã hội ở Phú Quốc nói riêng và cả tỉnh nói chung. Năm 2015, thu hút 4,37 triệu lượt khách, tăng bình quân 8,58%/năm, trong đó khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch đạt 1,97 triệu lượt khách, tăng 20,2%/năm (riêng khách quốc tế đến Phú Quốc đạt 221 ngàn lượt khách, tăng 21,8%/năm). Thời gian lưu trú tăng từ 1,59 ngày khách năm 2010 lên 1,74 ngày khách năm 2015. Tổng doanh thu du lịch 2.248,15 tỷ đồng và tăng bình quân 27%/năm. Tổng số cơ sở lưu trú du lịch khoảng 375 cơ sở với khoảng 8.118 phòng, tăng 151 cơ sở và 3.589 phòng so với năm 2010.

Nhìn chung, ngành dịch vụ ở Kiên Giang đã có bước phát triển tốt, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân. Ngành du lịch đã thu hút được một số dự án lớn đầu tư vào Phú Quốc nên đã phát triển khá tốt, tạo nhiều việc làm và chuyển đổi đất đai từ nông nghiệp sang phát triển du lịch. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ dịch vụ - du lịch vẫn còn thiếu và yếu nên cần tiếp tục thu hút đầu tư trong những năm tới để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển, nhất là các khu vực trọng điểm về du lịch như Phú Quốc, Hà Tiên, Rạch Giá...

3. Dân số, lao động, việc làm và mức sống dân cư

- Là tỉnh có quy mô dân số lớn thứ 2 trong vùng ĐBSCL, sau An Giang (2,2 triệu người), năm 2015 dân số trung bình Kiên Giang khoảng 1,76 triệu người, chiếm khoảng 10% dân số toàn vùng ĐBSCL. Quá trình đô thị hóa đã thu hút dân cư tập trung về các đô thị nên mật độ dân số ở Rạch Giá cao gấp 8,3 lần mật độ bình quân toàn tỉnh, gấp 32,9 lần mật độ dân số ở huyện Giang Thành. Tỷ lệ dân số đô thị cũng tăng từ 21,9% năm 2000 lên 27,1% năm 2010 và 27,4% năm 2015.

- Bên cạnh việc tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền kế hoạch gia đình để giảm dần tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 0,98% năm 2015, xu thế di dân cơ học từ tỉnh ra bên ngoài, nhất là làm việc tại các tỉnh thành vùng Đông Nam bộ đã kéo giảm tỷ lệ tăng dân số bình quân từ 1,4% thời kỳ 2000-2005 xuống còn 0,6% thời kỳ 2010-2015.

Bảng 06: Dân số, lao động tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2001-2015

 

 

Đơn

Năm

Tăng BQ (%/năm)

STT

Hạng mục

vị

2001-

2006-

2011-

 

 

tính

2000

2005

2010

2014

2015

2005

2010

2015

I

Tổng dân số

103 Ng

1.546

1.655

1.707

1.751

1.762

1,4

0,6

0,6

-

Dân số thành thị

103 Ng

339

430

462

480

484

4,9

1,4

0,9

*

% so với tổng dân số

%

21,9

26,0

27,1

27,4

27,4

3,4

0,8

0,3

-

Dân số nông thôn

103 Ng

1.207

1.225

1.245

1.271

1.279

0,3

0,3

0,5

II

Lao động đang làm việc

103 Ng

760

858

944

1.066

1.074

2,5

1,9

2,6

-

Lao động nông nghiệp

103 Ng

566

586

595

569

552

0,7

0,3

-1,5

-

Lao động công nghiệp

103 Ng

56

81

99

140

142

7,4

4,2

7,4

-

Lao động dịch vụ

103 Ng

137

192

250

357

381

7,1

5,4

8,8

III

Cơ cấu lao động

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-

Lao động nông nghiệp

%

74,6

68,2

63,0

53,4

51,4

-1,8

-1,6

-4,0

-

Lao động công nghiệp

%

7,4

9,4

10,5

13,1

13,2

4,8

2,2

4,7

-

Lao động dịch vụ

%

18,0

22,4

26,5

33,5

35,4

4,5

3,4

6,0

IV

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

%

9,1

15,1

27,0

47,0

52,0

10,7

12,3

14,0

-

Trong đó: qua đào tạo nghề

%

4,0

9,2

23,0

35,5

43,0

18,1

20,1

13,3

V

GDRP/ lao động

Tr Đ/ng

9,6

18,9

46,7

80,8

84,4

14,5

19,8

12,6

-

Lao động nông nghiệp

Tr Đ/ng

6,4

12,9

31,6

56,9

61,6

15,3

19,5

14,3

-

Lao động công nghiệp

Tr Đ/ng

34,6

51,1

108,5

148,2

164,8

8,1

16,3

8,7

-

Lao động dịch vụ

Tr Đ/ng

12,7

23,6

58,2

92,3

87,4

13,2

19,8

8,5

VI

Diện tích đất SXNN &NTTS

103 Ha

402,64

470,25

485,16

488,76

499,60

3,2

0,6

0,6

VII

BQ đất SXNN&NTTS/LĐNN

Ha

0,7

0,8

0,8

0,9

0,9

2,5

0,3

2,1

Nguồn:  -  Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang qua các năm;

- Số liệu năm 2015 theo báo cáo 390/BC-UBND ngày 04/12/2015 của UBND tỉnh Kiên Giang về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 05 năm 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ 05 năm 2016-2020;

- Tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế so với tổng dân số có xu thế tăng từ 49,1% năm 2000 lên 51,9% năm 2005, khoảng 55,3% năm 2010 và 61% vào năm 2015. Quy mô lao động đang làm việc đạt 1,074 triệu người năm 2015. Như vậy, cùng với xu thế phát triển kinh tế chung của đất nước, nền kinh tế ở Kiên Giang cũng ngày càng tạo ra nhiều việc làm và huy động khá tốt lực lượng lao động tại chỗ tham gia vào các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh.

- Chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra theo chiều hướng tích cực, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp và tăng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 74,6% năm 2000 xuống 68,2% năm 2005, còn 63% năm 2010 và khoảng 51,4% năm 2015; tương ứng tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng từ 25,4% năm 2000 lên 31,8% năm 2005, khoảng 37% năm 2010 và chiếm 48,6% năm 2015.

- Nhờ có sự chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý, cùng với việc ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất nên giá trị gia tăng bình quân trên lao động không ngừng được tăng lên, từ 9,6 triệu đồng năm 2000 lên 18,9 triệu đồng năm 2005, đạt 46,7 triệu đồng năm 2010 và khoảng 84,4 triệu đồng/lao động/năm vào năm 2015.

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày một tăng, từ 9,08% năm 2000 lên 15,1% năm 2005, khoảng 27% năm 2010 và đạt 52% năm 2015. Riêng lao động qua đào tạo nghề đạt tỷ lệ tương ứng qua các năm là 4% năm 2000, tăng lên 9,2% năm 2005, khoảng 23% năm 2010 và đạt 43% năm 2015, đạt mục tiêu kế hoạch 05 năm 2011-2015.

- Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao và ổn định trong thời gian dài, cùng với việc không ngừng ứng dụng các thành tựu khoa học – kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất lao động, tạo giá trị gia tăng cao, kết hợp với xu thế di dân cơ học từ tỉnh ra bên ngoài làm việc nên thu nhập bình quân đầu người ở Kiên Giang tăng nhanh từ 4,7 triệu đồng/người năm 2000 lên 9,8 triệu đồng/người năm 2005, khoảng 25,8 triệu đồng/người năm 2010 và đạt 51,4 triệu đồng/người năm 2015; cao hơn so với bình quân cả nước và hiện là tỉnh có thu nhập bình quân đầu người dẫn đầu trong các tỉnh vùng ĐBSCL, ngoại trừ Tp. Cần Thơ. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,73%, tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 70%, tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ sinh (theo chuẩn mới) đạt 85%, tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 98%, tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn 2,44%...

4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

4.1. Phát triển đô thị

- Tỷ lệ đô thị hoá (thông qua chỉ tiêu tỷ trọng dân số đô thị) của tỉnh Kiên Giang tương đối khá so với bình quân toàn vùng ĐBSCL, từ 21,9% năm 2000 lên 26% năm 2005, 27,1% năm 2010 và đạt khoảng 27,4% năm 2015.

- Toàn tỉnh hiện có 13 đô thị: Bao gồm 02 đô thị loại II (Tp. Rạch Giá và Phú Quốc), 01 đô thị loại III (Tx. Hà Tiên), 01 đô thị loại IV (TT. Kiên Lương - huyện Kiên Lương) và 12 đô thị loại V gồm: TT. Hòn Đất, TT. Sóc Sơn - huyện Hòn Đất; TT. Tân Hiệp - huyện Tân Hiệp, TT. Minh Lương - huyện Châu Thành; TT. Giồng Riềng - huyện Giồng Riềng; TT. Gò Quao - huyện Gò Quao; TT. Thứ Ba - huyện An Biên; TT. Thứ Mười Một - huyện An Minh; TT. Vĩnh Thuận - huyện Vĩnh Thuận; TT. An Thới, TT. Dương Đông - huyện Phú Quốc và đô thị Hòn Tre thuộc huyện Kiên Hải. Riêng 02 huyện U Minh Thượng, Giang Thành mới thành lập nên chưa hình thành đô thị.

- Về kết cấu hạ tầng các đô thị: Các đô thị Rạch Giá, Hà Tiên, Kiên Lương; Dương Đông, An Thới thuộc Phú Quốc được hình thành khá lâu đời và được quan tâm đầu tư, nhưng kết cấu hạ tầng vẫn còn thiếu về số lượng và còn hạn chế về chất lượng. Chất lượng mạng lưới đường bộ, hệ thống cấp nước sạch còn chưa đồng đều giữa các khu vực; hầu như chưa có hệ thống thu gom xử lý nước thải cho các khu dân cư đô thị, nhiều tuyến đường trong khu dân cư cũ bị xuống cấp. Các công trình phụ vụ về thiết chế văn hóa - thể thao, đào tạo còn thiếu nhiều so với nhu cầu. Riêng về xây dựng các khu dân cư, nhờ thành công trong chương trình lấn biển nên các đô thị Rạch Giá, Hà Tiên, Kiên Lương đã giải quyết khá tốt nguồn cung về đất ở cho các hộ dân, giảm được sức ép về đất ở đô thị. Các đô thị khác như các thị trấn trung tâm huyện, trung tâm tiểu vùng có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu nhiều, chất lượng phần lớn còn nhiều hạn chế so với tiêu chuẩn đô thị.

4.2. Các khu dân cư nông thôn

Năm 2015, dân số nông thôn vẫn còn chiếm tỷ lệ cao trong tổng dân số của Tỉnh (72,6%). Dân cư nông thôn phân bố chủ yếu theo tuyến và cụm (thường là các cụm dân cư trung tâm xã). Ngoài ra, còn phân bố trên các giồng cao ven sông.

- Cụm dân cư trung tâm xã, hiện có 115 cụm ở các trung tâm xã, có quy mô dân số từ khoảng 1.000 - 4.000 người, số hộ kinh doanh dịch vụ từ 30 - 40%, chủ yếu phân bố theo các trục quốc lộ, tỉnh lộ và các tuyến kênh trục chính.

- Phân bố dân cư theo tuyến là hình thức phổ biến, do mật độ dân số không cao nên ít thuận lợi cho việc đầu tư các công trình phúc lợi, nhất là ở vùng ngập lũ có mức ngập sâu như vùng TGLX.

- Phân bố dân cư theo giồng đất cao ở vùng ven biển và ven Sông Cái Lớn, Cái Bé. Đây là những khu vực không bị ngập lũ, dân cư tương đối ổn định với mật độ khá cao.

- Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, các khu, cụm dân cư nông thôn đã và đang được đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật nhằm đạt mục tiêu đạt chuẩn nông thôn mới. Tuy nhiên do hạn chế nguồn vốn đầu tư nên đến hết năm 2015, toàn tỉnh mới chỉ có 18/118 xã đạt chuẩn nông thôn mới, phần lớn cơ sở hạ tầng của hầu hết địa bàn dân cư nông thôn đều ở mức chưa hoàn chỉnh; hệ thống giao thông, cấp nước, cấp điện còn rất hạn chế, chất lượng thấp; các cơ sở văn hóa, thể thao, xử lý môi trường... còn thiếu.

5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

5.1. Giao thông

5.1.1. Giao thông bộ

Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh không ngừng phát triển. Giao thông đô thị ở thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên được đầu tư nâng cấp tạo bộ mặt mới cho các đô thị. Các tuyến giao thông liên huyện, liên xã và trục thôn-ấp trên đất liền được tỉnh quan tâm đầu tư trong thời gian vừa qua, dần đảm bảo nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân. Đường ô tô đã nối liền từ trung tâm huyện đến 100% các phường, thị trấn, 98,06% các xã trên đất liền.

- Hệ thống Quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh Kiên Giang gồm: Quốc lộ 80, Quốc lộ 61, Quốc lộ 63 và Quốc lộ N1. Đây là hệ thống giao thông đối ngoại quan trọng của tỉnh, kết nối tỉnh với các tỉnh lân cận, thúc đẩy giao lưu và trao đổi kinh tế.

Bảng 07: Thực trạng mạng lưới đường bộ tỉnh Kiên Giang

TT

Loại đường

Số

tuyến

Dài

(km)

Kết cấu

% nhựa hóa (cứng hóa)

Nhựa

BT

CP + Đất

1

Đường quốc lộ

4

291,8

269,3

20,3

 

100,0

2

Đường tỉnh

22

708,0

405,5

9,4

293,1

58,6

3

Đường huyện

70

636,3

357,8

76,0

202,5

68,2

4

Đường đô thị

378

638,6

 

421,9

216,7

66,1

5

Đường xã

 

7.084,0

 

2.723,0

4.361,0

38,4

 

Tổng

474

9.358,7

1.032,6

3.250,7

5.073,2

45,8

Nguồn: QH tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

- Ngoài hệ thống đường Quốc lộ, trên địa bàn hiện có 22 tuyến đường tỉnh và 70 tuyến đường huyện tạo ra mạng lưới các tuyến nhánh, kết nối với các tuyến quốc lộ theo dạng xương cá, góp phần phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của người dân trên địa bàn.

Nhìn chung, mạng lưới đường bộ cơ bản đã bao phủ rộng khắp địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, chất lượng của hầu hết các tuyến còn thấp, nhiều tuyến có mặt đường hẹp, hành lang bảo vệ đường bị lấn chiếm. Hạn chế trong việc giao lưu đi lại bằng xe ôtô giữa các huyện do ngăn cách bởi sông rạch như giữa Gò Quao với Vĩnh Thuận, U Minh Thượng và An Biên (ngăn cách bởi sông Cái Lớn). Giữa Gò Quao và Giồng Riềng (chỉ đi được qua QL.61); giữa Tân Hiệp, Hòn Đất và Giang Thành (kết nối với nhau phải đi ra QL.80 mất nhiều thời gian).

5.1.2. Giao thông thủy

Với hệ thống sông ngòi phát triển và phần lớn tiếp giáp biển (tổng chiều dài các tuyến đường sông trên 7.400 km) nên giao thông thủy đóng góp lớn trong vận tải hàng hóa và hành khách. Hiện tại, giao thông bằng đường thủy tiếp cận dễ dàng và thuận lợi đến 13 huyện, thị, thành phố trong đất liền của tỉnh Kiên Giang. Theo Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Kiên Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, hệ thống đường thủy trên địa bàn tỉnh có tổng chiều dài 2.744 km, trong đó: 21 tuyến do Trung ương quản lý với tổng chiều dài 427,5 km; 53 tuyến do tỉnh quản lý với tổng chiều dài 914,7 km và các tuyến đường thủy địa phương với tổng chiều dài 1.401,8 km.

Tuy nhiên, hệ thống sông-kênh của tỉnh Kiên Giang trong những năm qua chưa được quan tâm đầu tư cải tạo, dẫn đến luồng lạch ngày càng bị bồi lắng và dần bị thu hẹp. Theo khảo sát, đặc điểm mạng lưới sông, kênh trên địa bàn tỉnh có dạng nhánh cây, thiếu đường vòng tránh và các công trình thủy lợi chưa được kết hợp đồng bộ với các công trình giao thông thủy đã ảnh hưởng không nhỏ đến vận tải đường thủy.

Hệ thống giao thông đường biển: Đây là lĩnh vực Kiên Giang có nhiều lợi thế để phát triển và khắc phục được hạn chế về vị trí địa lý để mở ra hướng giao thương bằng đường biển. Tuy nhiên, hiện tại mới chỉ tổ chức được các chuyến tàu ra Kiên Hải, Phú Quốc, Thổ Châu; nhiều đảo còn lại phải di chuyển bằng tàu thuyền của ngư dân.

5.1.3. Đường hàng không

Tỉnh Kiên Giang có 2 sân bay chính:

- Sân bay Rạch Giá: Là một trong 4 sân bay chính của vùng ĐBSCL, đóng góp tích cực vào nhu cầu đi lại, hỗ trợ tốt cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

- Sân bay Quốc tế Phú Quốc: Tại Cửa Lấp, xã Dương Tơ, được đưa vào khai thác sử dụng từ cuối năm 2012, kết nối Phú Quốc với 03 trung tâm kinh tế lớn trong nước là Hà Nội, Tp. HCM, Cần Thơ và kết nối với quốc tế như Nga, Singapore, Campuchia.

Nhìn chung, hệ thống giao thông của tỉnh khá đa dạng: đường bộ, đường thủy và hàng không. Tuy nhiên, chưa được đầu tư đồng bộ và còn nhiều hạn chế, nhất là đường bộ và đường thủy. Do đó, chưa phát huy tốt các tiềm năng và thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh hơn.

5.2. Thủy lợi

Kiên Giang có địa hình thấp, nằm ven biển Tây và cuối nguồn nước ngọt, riêng vùng U Minh Thượng bị chia cắt bởi sông Cái Lớn nên mặn thường xâm nhập sâu và khó đưa nước ngọt về vùng này.

- Mặc dù với thời gian xây dựng chưa dài, nhưng được sự quan tâm đầu tư đúng hướng nên đến nay đã cơ bản ngọt hoá và kiểm soát xâm nhập mặn cho hai vùng TGLX và TSH. Chương trình ngọt hoá vùng Tây Sông Hậu đã xây dựng được hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh để sản xuất 03 vụ lúa/năm và cũng đã tác động tích cực đến một số khu vực của vùng U Minh Thượng, nên một số xã ở huyện U Minh Thượng đã tranh thủ làm được 3 vụ.

- Đến nay, đã cơ bản hoàn thành hệ thống kênh trục dẫn nước ngọt, thoát lũ và tiêu nước được nối từ sông Hậu với kênh Rạch Giá - Hà Tiên thuộc vùng Tứ Giác Long Xuyên, với sông Cái Lớn, Cái Bé thuộc vùng Tây Sông Hậu và các tuyến kênh trục vùng U Minh Thượng.

+ Tổng chiều dài hệ thống sông rạch, kênh các loại trên địa bàn tỉnh khoảng trên 8.110 km và cống đầu kênh, cống dưới đê, đê biển. Hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tiêu nước, giảm ngập nước vào mùa mưa lũ, tiêu độc, rửa phèn cho khoảng 450.000 ha đất sản xuất nông - lâm nghiệp; đồng thời, lấy phù sa từ sông Hậu đưa vào đồng ruộng; ngăn chặn sự xâm nhập mặn từ biển Tây để bảo vệ gần 100.000 ha đất sản xuất nông - lâm nghiệp vùng ven biển.

+ Hệ thống kênh cấp 2 và thủy lợi nội đồng đã được hoàn thành cơ bản, đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp cả về mùa mưa và mùa khô. Nhưng một số kênh cấp 2 và nhiều kênh cấp 3 ở vùng Tây Sông Hậu đang bị bồi lắng, làm chậm thời gian tiêu lũ và tiếp ngọt vào thời kỳ cuối mùa khô, đầu mùa mưa.

- Bước đầu đã xây dựng tuyến đê biển khá đồng bộ với hệ thống cống thoát lũ và lấy mặn cho NTTS. Tuyến đê biển dài 140 km với 30/51 cống trên toàn tuyến đã cơ bản hoàn thành (vùng TGLX có tuyến đê biển dài 75km và đã đầu tư 24 cống ngăn mặn, thoát lũ; vùng UMT có tuyến đê biển dài 65km, đang xây dựng 6/27 cống). Hiện đang thực hiện các dự án cống ngăn mặn: cống sông Kiên, kênh Cụt, vàm Bà Lực… khi hoàn thành các công trình này sẽ giúp ngăn mặn cho vùng TGLX và đẩy nước ngọt về vùng Tây Sông Hậu và một phần vùng U Minh Thượng tốt hơn.

- Hệ thống kiểm soát lũ ở tỉnh Kiên Giang phù hợp với hệ thống kiểm soát lũ của cả vùng ĐBSCL. Việc cho thoát phần lớn lượng lũ tràn qua biên giới Việt Nam - Campuchia ra biển Tây và cho lũ chính vụ tràn đồng để lợi dụng lũ là rất đúng đắn. Hiệu quả của việc kiểm soát lũ là giảm đáng kể mức độ ngập lũ đầu vụ khoảng 10-15cm bảo vệ lúa hè thu, mức độ thiệt hại giảm xuống. Các cụm tuyến dân cư được xây dựng góp phần giúp nhân dân sống chung với lũ an toàn, hệ thống giao thông thủy bộ được cải thiện.

- Cho tới nay các công trình thủy lợi đã đáp ứng được khoảng 62% nhu cầu tưới tiêu so với đất canh tác và 56% so với đất có khả năng sản xuất nông nghiệp. Riêng vùng ven biển, hệ thống kênh mương bờ bao các cấp đã có tác dụng cấp nước mặn phục vụ cho nuôi trồng thủy sản, hệ thống đê biển đã và đang được đầu tư nâng cấp đáp ứng được khoảng 65% yêu cầu, góp phần tích cực ngăn triều cường dâng nước và cải thiện giao thông bộ.

5.3. Hệ thống điện

- Hệ thống cung cấp điện năng: Hiện nay, mạng lưới điện quốc gia đã được kéo đến 15 huyện, thị, thành phố thuộc tỉnh. Riêng các đảo nhỏ (Hòn Thơm, Thổ Châu, Lại Sơn, An Sơn, Nam Du, Tiên Hải, Sơn Hải, Hòn Nghệ…) được cung cấp điện từ các máy phát điện chạy bằng dầu diesel hoặc xăng. Cùng với sự chỉ đạo của Chính phủ, Kiên Giang đã tập trung đầu tư lưới điện quốc gia để cấp cho 02 huyện đảo là Phú Quốc và Kiên Hải, tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở 02 huyện đảo.

- Đường dây cao thế bao gồm đường dây 220 kV và 110 kV cũng đã được đầu tư khép kín.

- Đường dây trung - hạ thế bao gồm toàn bộ lưới điện 22 kV với tổng chiều dài 3.339,8 km; đường dây hạ thế 5.032,95km. 100% các xã, phường, thị trấn đã có điện.

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện: Năm 2015, tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 98%, nhưng chủ yếu mới là điện sinh hoạt, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển sản xuất ở nông thôn, nhất là phục vụ cho các trạm bơm điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và NTTS. Hiện toàn tỉnh chỉ có 840 trạm bơm điện, trong đó có 668 trạm bơm điện 03 pha với diện tích phục vụ khoảng 5.392ha, chỉ chiếm 2% diện tích canh tác.

5.4. Cấp nước sinh hoạt

Cấp nước sinh hoạt cho người dân tỉnh Kiên Giang hiện tại có sự tham gia của Công ty Cấp thoát nước tỉnh Kiên Giang, Công ty Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Kiên Giang, UBND các xã và của hộ tư nhân.

- Công ty Cấp thoát nước tỉnh Kiên Giang có 10 nhà máy cấp nước (trong đó có 05 nhà máy sử dụng nước mặt và 05 nhà máy sử dụng nước ngầm) với tổng công suất 56.700m3/ngày, phục vụ gần 41 ngàn người. Phạm vi phục vụ của các nhà máy chủ yếu là dọc các tuyến nối trung tâm các huyện thị và các khu vực lân cận.

- Công ty Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Kiên Giang quản lý 56 nhà máy cấp nước, phân bố rải rác khắp khu vực nông thôn của tỉnh, trong đó: Giồng Riềng 11 nhà máy, Gò Quao 11 nhà máy, Hòn Đất 07 nhà máy, Châu Thành 07 nhà máy, U Minh Thượng 05 nhà máy, An Biên 04 nhà máy, Tân Hiệp 03 nhà máy; Kiên Lương, Vĩnh Thuận 02 nhà máy/huyện; Giang Thành, Hà Tiên, Rạch Giá 01 nhà máy/đơn vị. Công suất cấp nước khoảng từ 3-10m3/giờ, tổng công suất khoảng 457m3/giờ.

- Do đặc điểm phân bố dân cư ở tỉnh không tập trung dẫn đến nhiều hệ thống nối mạng của nhà nước vẫn chưa thể cấp nước đến các hộ dân được, nên đã xuất hiện các loại hình cấp nước tư nhân có công suất tư 22-20m3/giờ… Tuy nhiên, công tác quản lý, kiểm tra chất lượng nước của loại hình này vẫn còn nhiều hạn chế.

Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh (theo chuẩn mới) năm 2015 đạt 85%.

5.5. Y tế

Toàn tỉnh có 03 bệnh viện tuyến tỉnh, 01 bệnh viện khu vực, 11 bệnh viện tuyến huyện, 15 trung tâm y tế huyện, 14 phòng khám đa khoa khu vực và 131 trạm y tế xã (trong đó 70% đạt chuẩn quốc gia).

Toàn tỉnh hiện có 48,3% trạm y tế xã có bác sĩ công tác cố định; số bác sĩ/vạn dân đã tăng từ 4,67 năm 2010 lên 6,07 năm 2015 vượt kế hoạch đặt ra. Tỷ lệ sinh giảm từ 1,63% năm 2010 xuống còn 1,5% năm 2015; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,08% xuống còn 0,98%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 17,3% xuống còn 13,6%; tỷ lệ dân tham gia bảo hiểm tăng từ 38% lên 70%.

5.6. Giáo dục – đào tạo

- Mạng lưới trường lớp: Toàn tỉnh hiện 660 trường học. Bao gồm: 126 trường giáo dục mầm non, tăng 63 trường so với năm 2010; 513 trường giáo dục phổ thông, trong đó: tiểu học 296 trường, phổ thông cơ sở 44 trường, trung học cơ sở 122 trường, trung học cấp II, III 28 trường và trung học phổ thông có 23 trường; 05 trường cao đẳng và 01 trường đại học Kiên Giang. Hệ giáo dục không chính quy có 15 cơ sở, gồm 14 trung tâm giáo dục thường xuyên và 01 trung tâm ngoại ngữ tin học.

- Chất lượng giáo dục: Toàn tỉnh có 174 trường học đạt chuẩn quốc gia, tăng 108 trường so năm 2010. Tỷ lệ giáo viên THPT có trình độ thạc sĩ đạt 7,51%; tỷ lệ giáo viên và cán bộ quản lý đạt chuẩn trên 90%. Tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm đạt trên 97,37%; học sinh đậu đại học, cao đẳng tăng thêm 2.100 sinh viên so với giai đoạn 2006-2010; tỷ lệ huy động học sinh 6-14 tuổi đạt 96,03%, tăng 5,67% so với năm 2010; đã công nhận 127/145 xã, phường, thị trấn và 10/15 huyện, thị xã, thành phố hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non 05 tuổi và đến cuối năm học 2015-2016 sẽ hoàn thành Đề án giáo dục mầm non trẻ 05 tuổi. Duy trì kết quả chương trình xóa mù và sau xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở.

5.7. Văn hóa - thể thao

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa từng bước được nâng lên, có 88% gia đình đạt chuẩn văn hóa; 83% ấp, khu phố văn hóa; 19,31% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hóa; 95% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa. Số người tham gia rèn luyện sức khỏe thường xuyên chiếm 25% dân số.

Cơ sở văn hóa - thể thao: Toàn tỉnh có 52 di tích được xếp hạng, tăng 13 di tích so với năm 2010; 30 trung tâm văn hóa thể thao các cấp, tăng 11 trung tâm so với năm 2010. Trong đó có 21 trung tâm văn hóa thể thao xã, thị trấn; 08 trung tâm VH-TT cấp huyện và 01 trung tâm VH-TT cấp tỉnh. Như vậy, mặc dù đã được tăng cường đầu tư trong những năm qua nhưng mạng lưới cơ sở văn hóa - thể thao vẫn còn thiếu, nhất là ở tuyến huyện và tuyến xã.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG

1. Những lợi thế về ĐKTN và thành tựu đạt được trong phát triển KT-XH

1.1. Những lợi thế về điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý của Kiên Giang thuận lợi cho mở rộng giao lưu với các tỉnh và các nước trong khu vực Đông Nam Á, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng.

- Bờ biển dài với thềm lục địa và ngư trường đánh bắt rộng, trữ lượng hải sản lớn và chủng loại phong phú. Có các đảo lớn như Phú Quốc, Thổ Chu,... có nhiều bãi tắm đẹp, danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử cho phép phát triển một nền kinh tế tổng hợp, đặc biệt là khai thác hải sản và du lịch.

- Đất đai rộng, độ phì khá cao, kết hợp với điều kiện khí hậu và nguồn nước tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản đa dạng, năng suất và hiệu quả cao, khối lượng sản phẩm lớn.

- Khí hậu ôn hoà không chỉ thuận lợi cho phát triển nông – lâm – thủy sản trên đất liền mà còn thuận lợi cho hoạt động thu hút khách du lịch quanh năm, nuôi thủy sản và xây dựng các công trình trên biển, đảo.

- Có trữ lượng đá vôi, đất sét, than bùn lớn cho phép phát triển công nghiệp xi măng quy mô lớn phục vụ thị trường xây dựng trong tỉnh và Đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra, có thể phát triển công nghiệp sản xuất gạch ngói, phân hữu cơ vi sinh…

1.2. Những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội

- Kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định trong suốt thời kỳ dài, đã tạo điều kiện để tăng cường các nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng cho xã hội, thu nhập người dân được nâng cao, cao hơn mức trung bình toàn quốc.

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực đó là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng ngành dịch vụ. Các khu vực kinh tế có tiềm năng thế mạnh được tăng cường đầu tư, khai thác và phát huy tốt hơn, trong đó khu vực nông lâm sản tăng trưởng khá và giữ vai trò quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế ở tỉnh.

- Các đô thị từng bước được chỉnh trang theo hướng hiện đại, nhất là đô thị Phú Quốc đã thu hút được nhiều dự án đầu tư quy mô lớn. Khu vực nông thôn ngày càng được cải thiện, kinh tế nông thôn có bước phát triển khá hơn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, nhiều mô hình sản xuất có hiệu quả, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh.

- Kinh tế biển phát triển khá, từng bước khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của biển.

- Kinh tế phát triển nhanh nhưng môi trường vẫn được đảm bảo. Các chỉ số liên quan đến môi trường đất, nước, không khí, đô thị - nông thôn vẫn nằm trong ngưỡng cho phép. Tài nguyên rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ ven biển ngày càng được mở rộng về diện tích và cơ bản giữ được độ che phủ trong diện tích đất lâm phần.

2. Một số tồn tại và hạn chế

- Cách xa các trung tâm kinh tế lớn nên khó khăn trong việc hợp tác phát triển kinh tế và thu hút đầu tư.

- Đất nông nghiệp nhiều nơi còn bị phèn, chưa kiểm soát chủ động được nguồn nước ngọt, mặn phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.

- Nền đất yếu, địa hình thấp, lũ lụt, hạn hán hàng năm đã gây nhiều thiệt hại về cơ sở vật chất và đời sống của người dân. Suất đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật và các khu dân cư cao.

- Kinh tế phát triển nhanh nhưng chưa vững chắc, công nghiệp còn kém phát triển, mặc dù đã được quy hoạch nhưng thu hút đầu tư hạn chế nên tỷ lệ lấp đầy trong các khu, cụm công nghiệp chưa cao.

- Cơ sở hạ tầng tuy đã được quan tâm đầu tư trong những năm gần đây nhưng vẫn còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Đặc biệt là hệ thống giao thông đối ngoại, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng nông thôn mới…

- Liên kết vùng tuy đã được các bộ ngành quan tâm chỉ đạo, nhưng kết quả chỉ đạo thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế nên chưa khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương trong vùng ĐBSCL.

- Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng sẽ tác động rất lớn đến phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Kiên Giang, đòi hỏi phải có những chương trình, kế hoạch đầu tư dài hạn để thích ứng với xu thế này.

- Việc gia tăng sử dụng nước sông Mekong của các nước thượng nguồn, nhất là vào mùa khô gây ra nhiều thách thức cho sự phát triển của ĐBSCL nói chung và Kiên Giang nói riêng, trong đó có vấn đề sử dụng đất.

Ban Biên tập (tổng hợp)