Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Tin tức – Sự kiện

Xem với cỡ chữAA

Hành vi lấn, chiếm đất bị xử phạt như thế nào theo Nghị định số 91/2019/NĐ-CP?

(13:25 | 10/02/2020)

Khác với Nghị định số 102/2014/NĐ-CP, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05/01/2020 thay thế đã khắc phục những bất cập trước đây, xử phạt hành vi lấn, chiếm tương ứng với diện tích đất bị lấn, chiếm; xử phạt ở đô thị cao gấp 02 lần mức phạt hành vi lấn, chiếm tương ứng ở nông thôn.

Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 đã giải thích từ ngữ lấn, chiếm đất (Điều 3) rõ hơn, đưa thêm chủ thể quản lý, sử dụng đất “cho phép” và thời hạn sử dụng đất, thủ tục giao đất… so với Nghị định số 102/2014/NĐ-CP, cụ thể như sau:

 

Nhiều căn nhà xây dựng trái phép trên rừng phòng hộ ở Phú Quốc.

 

Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép.

 

Chiếm đất là việc sử dụng đất thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Tự ý sử dụng đất mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép; (2) Tự ý sử dụng đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác mà không được tổ chức, cá nhân đó cho phép; (3) Sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê đất đã hết thời hạn sử dụng mà không được Nhà nước gia hạn sử dụng (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng đất nông nghiệp); (4) Sử dụng đất trên thực địa mà chưa hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật.

 

Xử phạt hành vi lấn, chiếm đất, Điều 14 Nghị định đã khắc phục những thiếu sót, bất cập trước đây, vừa đảm bảo được tính răn đe, vừa đảm bảo được sự công  bằng trước pháp luật. Mức phạt thấp nhất tăng từ 02 lần, cao nhất tăng 100 lần, cụ thể như sau:

 

1. Đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn chia ra 5 mức diện tích đất lấn, chiếm: Dưới 0,05 héc ta; từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta; từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta; từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta; từ 01 héc ta trở lên. Tương ứng với 5 cấp dộ diện tích đất lấn, chiếm này là mức phạt tiền, thấp nhất từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng, cao nhất từ 30 triệu đồng đến 70 triệu đồng.

 

2. Đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn cũng có 5 mức diện tích đất lấn, chiếm như đất chưa sử dụng tại khu vực nông thôn, nhưng mức phạt lại cao hơn. Với diện tích đất lấn, chiếm nhỏ nhất, mức phạt từ 3 triệu đến 5 triệu đồng, cao nhất từ 50 triệu đến 120 triệu đồng.

 

3. Đất nông nghiệp là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất tại khu vực nông thôn có 6 mức phạt. Mức thấp nhất phạt từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,02 héc ta; mức cao nhất phạt từ 60 triệu đồng đến 150 triệu đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

 

4. Đất phi nông nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này tại khu vực nông thôn có 5 mức phạt. Mức thấp nhất phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta; mức cao nhất phạt từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng đối với diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

 

5. Lấn, chiếm đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này) tại khu vực đô thị thì mức xử phạt bằng 02 lần mức xử phạt đối với loại đất tương ứng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và mức phạt tối đa không quá 500 triệu đồng đối với cá nhân, không quá 1 tỷ đồng đối với tổ chức.

 

Trường hợp lấn, chiếm đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, đất trụ sở làm việc… thì xử phạt theo các lĩnh vực chuyên ngành (Khoản 6).

 

Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm; buộc đăng ký đất đai theo quy định đối với trường hợp có đủ điều kiện; buộc thực hiện tiếp thủ tục giao đất, thuê đất theo quy định; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm…

Bùi Đức Độ