Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Tin tức – Sự kiện

Xem với cỡ chữAA

Tiêu chuẩn, nhiệm vụ của chức danh trợ giúp viên pháp lý

(08:46 | 18/05/2020)

Trợ giúp viên pháp lý là một chức danh nghề nghiệp, làm việc tại Trung tâm trợ giúp pháp lý (TGPL) nhà nước, được Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm và cấp thẻ. Nhiệm vụ chủ yếu của trợ giúp viên pháp lý là cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và tham gia tố tụng để bào chữa/bảo vệ cho người được TGPL trong các vụ án. 

 

Trợ giúp pháp lý lưu động cho người dân.


Chế định trợ giúp viên pháp lý (trợ giúp viên) có từ Luật TGPL năm 2006, đến năm 2015 các bộ luật và luật về tố tụng đã ghi nhận trợ giúp viên tham gia với tư cách là người bào chữa/bảo vệ cho bị can, bị cáo, đương sự thuộc trường hợp được TGPL trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính. Kế thừa Luật TGPL năm 2006, Luật TGPL năm 2017 đã nâng chuẩn chức danh nghề nghiệp của trợ giúp viên ngang với luật sư, nhằm đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ TGPL cho người được TGPL. 


Theo Điều 19 Luật quy định: Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm TGPL nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý: Có phẩm chất đạo đức tốt; có trình độ cử nhân luật trở lên; đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL; có sức khỏe bảo đảm thực hiện TGPL; (5) Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật. 


Trong 05 tiêu chuẩn, thì tiêu chuẩn mới được bổ sung có vai trò quyết định nhất nâng chuẩn chức trợ giúp viên, đó là: đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự TGPL (12 tháng), bởi tính chất nghề nghiệp, hoạt động của trợ giúp viên tương đồng với luật sư, cần có thời gian thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để có thể đảm nhận tốt nhiệm vụ khi được chính thức cấp thẻ trợ giúp viên. 


Nhiệm vụ chủ yếu của trợ giúp viên là cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí như: tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và tham gia tố tụng để bào chữa/bảo vệ cho người được TGPL theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm TGPL nhà nước hoặc Trưởng Chi nhánh trực thuộc Tung tâm. 


Ngoài cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí, trợ giúp viên còn có những nhiệm vụ khác theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2016/TTLT-BTP-BNV ngày 23/6/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ quy định mã số, tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp viên chức trợ giúp viên pháp lý. Theo quy định, có trợ giúp viên hạng II và trợ giúp viên hạng III. 


Theo đó, trợ giúp viên hạng II có các nhiệm vụ: Thực hiện TGPL đối với các vụ việc phức tạp và các vụ việc TGPL khác được phân công; chủ trì nghiên cứu, xây dựng và tổ chức thực hiện văn bản, đề án, chương trình, kế hoạch TGPL trong phạm vi địa phương; tổ chức đánh giá, giám sát việc đánh giá, hướng dẫn và tham gia đánh giá chất lượng vụ việc TGPL; chủ trì tổ chức hoặc trực tiếp hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng TGPL cho trợ giúp viên hạng III và người thực hiện TGPL khác; chủ trì hoặc tham gia biên soạn chương trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL; tổ chức hoặc tham gia bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ và kỹ năng TGPL cho người thực hiện TGPL; chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn thực hiện TGPL và đề xuất các giải pháp đổi mới nâng cao chất lượng công tác TGPL; thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công.


Đối với trợ giúp viên hạng III ngoài nhiệm vụ chủ yếu thực hiện các vụ việc TGPL theo sự phân công, còn tham gia đánh giá chất lượng vụ việc TGPL; tham gia nghiên cứu, xây dựng chương trình, kế hoạch, văn bản TGPL ở địa phương; tham gia biên soạn chương trình, tài liệu và tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ TGPL; tham gia nghiên cứu khoa học phục vụ công tác TGPL và thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công. 
                   

    
  


 

Bùi Đức Độ