Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Hoạt động của Tỉnh ủy và HĐND

Xem với cỡ chữAA

Tỉnh Ủy ban hành kế hoạch phát triển Khoa học Công nghệ

(14:23 | 12/03/2020)

Ngày 28-02-2020, đồng chí Đặng Tuyết Em, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh đã ký ban hành Kế hoạch số 197-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Kết luận số 50-KL/TW, ngày 30-5-2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Theo đó, sau 7 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) và Chương trình hành động số 36-CTr/TU của Tỉnh ủy về khoa học và công nghệ, tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật của các tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ trong tỉnh được tăng cường; hợp tác, liên kết về khoa học và công nghệ có chuyển biến tích cực, nguồn nhân lực hoạt động khoa học và công nghệ được nâng lên về chất lượng và số lượng. Khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp luận cứ khoa học phục vụ cho việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạch định phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Khoa học tự nhiên-kỹ thuật đã tích cực nghiên cứu, ứng dụng phục vụ khai thác, phát huy tiềm năng, thế mạnh, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật các ngành kinh tế trong tỉnh, tập trung ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.


Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học tự nhiên-kỹ thuật và khoa học xã hội nhân văn còn hạn chế. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh còn thiếu nhất là cán bộ có trình độ cao, chuyên gia giỏi. So với mục tiêu Nghị quyết đề ra, một số chỉ tiêu chưa đạt yêu cầu (Mục tiêu của Chương trình hành động số 36-CTr/TU của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, đến năm 2020: Số cán bộ khoa học-công nghệ nghiên cứu và phát triển đạt khoảng 7 người/vạn dân thì hiện chỉ đạt 6 người/vạn dân; xây dựng từ 2 đến 3 sản phẩm của địa phương đạt danh hiệu sản phẩm Quốc gia hiện chưa xây dựng được; hình thành khoảng 4 doanh nghiệp khoa học và công nghệ hiện chỉ có 2 doanh nghiệp; hình thành khoảng 3 khu nông nghiệp công nghệ cao hiện chỉ hình thành được 2 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; thành lập Khu Đô thị Khoa học và Công nghệ Cửa Cạn - Phú Quốc hiện vẫn chưa thành lập). Hệ thống văn bản pháp luật, cơ chế chính sách đối với khoa học và công nghệ tuy có đổi mới, nhưng còn bất cập, chưa đồng bộ. Hiệu quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào đời sống, sản xuất chưa cao.


Tình hình trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do một số cấp ủy đảng, chính quyền chưa quan tâm sâu sát trong lãnh đạo, chỉ đạo đối với khoa học và công nghệ. Nhận thức của một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân về vai trò, tầm quan trọng của khoa học và công nghệ chưa thật sự đầy đủ. Nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến việc sử dụng kết quả nghiên cứu, cải tiến, đổi mới công nghệ,... phục vụ vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh.


Để triển khai thực hiện tốt Kết luận số 50-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về “phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra kế hoạch thực hiện:


Về mục đích, yêu cầu: 


Tiếp tục quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 01-11-2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và Chương trình hành động số 36-CTr/TU của Tỉnh ủy; tổ chức quán triệt nghiêm túc, đồng thời chỉ đạo thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Kết luận số 50-KL/TW của Ban Bí thư và kế hoạch này của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.


Nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền; sự tự giác, chủ động, tham gia hoạt động khoa học và công nghệ của toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội; phấn đấu sớm đạt mục tiêu Nghị quyết đã đề ra.


Về nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:


(1) Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, sự quản lý của nhà nước đối với phát triển khoa học và công nghệ


Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận số 50-KL/TW của Ban Bí thư, Chương trình hành động số 36-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế hoạch số 16/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh về “phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. 


Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp trong triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết. Cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp, trước hết là người đứng đầu chịu trách nhiệm thúc đẩy phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ thuộc phạm vi quản lý của mình. 


(2) Đổi mới cơ chế chính sách, phương thức quản lý tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ


Tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và ban hành các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến, đổi mới và phát triển công nghệ, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, phát triển thương hiệu, nâng cao chuỗi giá trị các sản phẩm địa phương; thu hút, đãi ngộ, cán bộ khoa học công nghệ có trình độ cao về công tác tại tỉnh. Từng bước hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo của tỉnh theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm; trường đại học, cao đẳng, tổ chức khoa học và công nghệ là chủ thể nghiên cứu chủ yếu. 
Rà soát, sắp xếp lại bộ máy tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ của tỉnh. Tiếp tục đổi mới phương thức quản lý hoạt động khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực hiện tốt cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp hoạt động khoa học và công nghệ, duy trì phương thức Nhà nước đặt hàng, đấu thầu và tiến tới thực hiện cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Nghiên cứu, sử dụng các quỹ đã có ở cấp độ quốc gia như: Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia; từng bước hình thành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh. Khuyến khích tăng số lượng, quy mô và sử dụng có hiệu quả các quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp; đẩy mạnh hợp tác công-tư.


(3) Triển khai có hiệu quả các chương trình khoa học và công nghệ 


Tiếp tục lập quy hoạch phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2030 phù hợp với quy hoạch phát triển chung của tỉnh. Triển khai thực hiện tốt 05 chương trình khoa và học công nghệ trọng điểm của tỉnh: 


- Chương trình khoa học xã hội và nhân văn;


- Chương trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn;


- Chương trình khoa học và công nghệ cải tiến, đổi mới, phát triển nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất công nghiệp;


- Chương trình khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu;


- Chương trình phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia, theo hướng phục vụ thiết thực các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Nâng cao năng lực ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới để phát triển các sản phẩm chủ lực có tính cạnh tranh cao của tỉnh. 


Tập trung đầu tư nghiên cứu, nâng cao năng lực, ứng dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trong và ngoài nước phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Trong Nông nghiệp, ưu tiên các hoạt động nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh học. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người.


Tiếp tục đầu tư và khai thác có hiệu quả các khu nông nghiệp công nghệ cao, các cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng. Củng cố và phát triển hạ tầng, phục vụ khai thác thông tin, tư liệu về khoa học và công nghệ phù hợp với chuẩn mực quốc gia và quốc tế.


(4) Phát huy và tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ    


Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường đầu tư từ ngân sách cho khoa học và công nghệ. Triển khai thực hiện tốt đề án phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh giai đoạn đến 2025 và định hướng đến 2030; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Hoàn thiện các cơ chế chính sách để thu hút và huy động tối đa các nguồn lực, nhất là nguồn lực ngoài ngân sách đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ; có chính sách khuyến khích, thúc đẩy gắn kết các trường đại học, cao đẳng với doanh nghiệp để đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào phục vụ sản xuất, kinh doanh.


(5) Phát triển mạnh thị trường khoa học công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo


Tăng cường công tác thông tin khoa học và công nghệ, đẩy mạnh phát triển dịch vụ khoa học và công nghệ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, nhất là doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Thúc đẩy sự liên thông của thị trường khoa học và công nghệ với thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường lao động và thị trường vốn. Kết nối có hiệu quả giữa Trung tâm Khoa học Công nghệ và Môi trường của tỉnh với các sàn giao dịch công nghệ quốc gia. Liên kết và phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ về đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng; hỗ trợ doanh nghiệp truy xuất nguồn gốc sản phẩm. 


Triển khai thực hiện tốt các văn bản của Trung ương và của tỉnh trong việc hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn. Thúc đẩy khu vực tư nhân và doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực khoa học và công nghệ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Gắn khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tăng cường hỗ trợ các nhóm nghiên cứu trong các cơ sở đào tạo, các nhóm nghiên cứu tiềm năng và các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn.


(6) Tăng cường hợp tác về khoa học và công nghệ


Xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các sở ngành, địa phương, đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ. Tăng cường hợp tác, liên kết với các viện, trường đại học, trung tâm nghiên cứu khoa học-công nghệ lớn trong và ngoài tỉnh ở một số lĩnh vực mà tỉnh có nhu cầu. Triển khai thực hiện tốt các hoạt động giao lưu, trao đổi về khoa học và công nghệ tầm khu vực, quốc gia và quốc tế.


Đa dạng hóa các đối tác và đẩy mạnh hợp tác về khoa học công và nghệ có trọng tâm, trọng điểm, theo lĩnh vực ưu tiên; gắn kết giữa hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ với hợp tác quốc tế về kinh tế. Chủ động hợp tác nghiên cứu chung với các đối tác quan trọng sở hữu công nghệ nguồn, mở rộng hợp tác khoa học và công nghệ với các nước tiên tiến. Chú trọng khai thác, chuyển giao công nghệ từ các nơi có công nghệ nguồn để rút ngắn khoảng cách, nâng cao trình độ, năng lực khoa học và công nghệ của tỉnh. Khuyến khích các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp trong tỉnh hoặc thành lập các cơ sở nghiên cứu và phát triển tại tỉnh. 


Chỉ đạo thực hiện: 


Các huyện ủy, thành ủy và các đảng ủy trực thuộc tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương và Chương trình hành động số 36-CTr/TU của Tỉnh ủy; xây dựng kế hoạch thực hiện Kết luận số 50-KL/TW của Ban Bí thư và kế hoạch này của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.


Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể hóa thực hiện; đồng thời rà soát, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách và hệ thống các văn bản liên quan đến lĩnh vực khoa học công nghệ xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ cho giai đoạn sau năm 2020 và bảo đảm ngân sách phát triển khoa học và công nghệ theo quy định. Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch phát triển khoa học và công nghệ của tỉnh. Chỉ đạo các cơ quan Báo, Đài, các trang thông tin điện tử tích cực mở chuyên trang, chuyên mục về khoa học và công nghệ theo hướng đa dạng, hấp dẫn, phù hợp với trình độ, nhu cầu của người dân ở từng vùng trong tỉnh; biểu dương các gương điển hình tiên tiến trong việc nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ mang lại hiệu quả.


Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp các ban, sở, ngành liên quan giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và báo cáo tình hình triển khai thực hiện cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy. 
 

Thái Châu